08/02/2024
Nấm Cordyceps, đặc biệt là Cordyceps sinensis và Cordyceps militaris
Nấm dược liệu từ lâu đã là một phần quan trọng của văn hóa và nền văn minh nhân loại, đặc biệt là các loài trong giống Cordyceps được đánh giá cao do chứa nhiều hợp chất dược liệu (McKenna et al., 2002). Giống Cordyceps có hai loài hiện nay đang được nghiên cứu rất nhiều về chiết xuất và sản xuất do có giá trị dược liệu và giá trị kinh tế cao (Liu et al., 2001; Li et al., 2006).
Nấm đông trùng hạ thảo Ophiocordyceps sinensis (hay còn gọi là Cordyceps sinensis) là một loại nấm dược liệu có phân bố rất hạn chế trong tự nhiên và được nuôi trồng trong điều kiện hoang dã, loài nấm này hiện tại vẫn chưa được nuôi trồng thành công trong môi trường nhân tạo, do đó sản lượng nấm thu được không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường (Li et al. 2006; Stone 2008; Zhang et al. 2012).
Loài đông trùng hạ thảo Cordyceps militaris (thường được gọi là nấm cam sâu bướm), chứa các hợp chất hóa học tương tự như của O.sinensis, nhưng có thể dễ dàng nuôi trồng trong môi trường nhân tạo (Li et al. 1995; D**g et al., 2012). Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về quy trình nuôi trồng nấm C. militaris nhằm thay thế cho loài O. Sinensis và có nhiều nghiên cứu quan trọng về gen, nhu cầu dinh dưỡng, môi trường nuôi cây, các đặc tính sinh hóa và dược lý của nấm C. militaris. Gần đây, bộ gen hoàn chỉnh của C. militaris cũng được giải trình tự làm cơ sở cho nhiều nghiên cứu sâu hơn về loài nấm này (Zheng et al, 2011).
Có hơn 400 phân loài Cordyceps đã được tìm thấy và mô tả, tuy nhiên chỉ có khoảng 36 loài được nuôi trồng trong điều kiện nhân tạo để sản xuất quả thể (Wang, 1995; Sung, 1996; Li et al, 2006). Trong số những loài này, chỉ có loài C. militaris đã được trồng ở quy mô lớn do nó có dược tính rất tốt và có thời gian sản xuất ngắn (Li et al, 2006).
Quả thể của nấm Cordyceps militaris được sử dụng làm thực phẩm, trong các món hầm, súp, trà... ở các nước Đông Nam Á như Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc. Lượng an toàn tối đa hơn 2.5 g/kg cơ thể (Che et al, 2003). Quả thể và sinh khối nấm cũng được sử dụng làm thuốc và bồi bổ sức khỏe như nước uống, viên nhai, rượu, dấm, trà, yogurt và nước mắm (Wang et al, 2006). Các loại thuốc từ nấm này được sử dụng để duy trì chức năng thận, phổi, chống lão hóa, điều hòa giấc ngủ, chống viêm phế quản và nhiều ứng dụng khác (Das et al., 2010). Hiện có hơn 30 sản phẩm chăm sóc sức khỏe từ C. militaris trên thị trường (Huang et al., 2010)."
Theo kết quả điều tra của Công ty Công nghệ Baoli Laoning (Trung Quốc), thực phẩm chức năng từ nấm Cordyceps có tiềm năng lớn tại Trung Quốc với doanh thu đạt 70 tỷ nhân dân tệ, trong khi ở Nhật Bản và Mỹ, doanh thu tương ứng là 3,6 tỷ USD và 3,5 tỷ USD vào năm 1990 (Wang và Yang, 2006). Các sản phẩm thuốc và thực phẩm chức năng từ nấm Cordyceps militaris chiếm thị trường lớn trên toàn cầu. Giá cả của các sản phẩm như Công ty Zeolite là 41,95 USD/lọ 90 viên (650mg/viên), Cordygen là 19,95 USD/lọ 90 viên.
Với giá trị dược liệu và giá trị kinh tế cao, cùng với khả năng nuôi trồng nấm Cordyceps militaris ở quy mô lớn, việc phát triển nghiên cứu về nuôi trồng nấm này nhằm tăng cường quy mô sản xuất và đáp ứng nhu cầu trong nước, cũng như chuyển giao công nghệ cho các đơn vị sản xuất là rất cần thiết.
Nấm Cordyceps militaris thuộc giới Nấm, chi Ascomycota, lớp Sordariomycetes, bộ Hypocreales, họ Cordycipitaceae, giống Cordyceps và loại C. militaris. Tên khoa học là Cordyceps militaris(L.) Fr. (1818).
Nấm đông trùng hạ thảo Cordyceps militaris là loài nấm ký sinh trên bướm và sâu bướm, có màu cam và chiều dài đầu quả thể khoảng 8-10 cm. Đầu quả thể nấm có các đốm màu cam sáng. Quả thể nấm nổi lên từ xác ấu trùng hoặc nhộng, mặt cắt ngang quả thể có màu nhạt, rỗng ở giữa (Hình 1). Các nang bào tử dài từ 300-510 micro mét, bề rộng 4 micro mét. Các bào tử nang có hình sợi, không màu và phân đoạn, kích thước 3.5-6 × 1-1.5 micro mét. Các bào tử nang này trong điều kiện nấm sống sẽ đâm ra và nảy chồi tạo các bào tử thứ cấp. Nấm này có phân bố rộng, được tìm thấy ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á (Paul et al, 2008).
P/S : nội dung được trích lại từ bài viết trên "Tap ch ̣ ı́ Khoa hoc Tr ̣ ườngĐai ho ̣ c Câ ̣ ̀n Thơ" " Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệSinh học: 44 (2016): 9-22"